Tiếng Việt

Ai đang truy cập

We have 11 guests and no members online

Hôm nay
Hôm qua
Tổng cộng
129
96
98821

3.66%
28.64%
7.54%
4.82%
0.23%
55.12%

Đăng ký/nhập

Thảo luận mới

  • No posts to display.

Những từ ngữ dùng chưa đúng. Tiếng Việt đâu nghèo đến thế.

         Dưới đây là những từ ngữ bị dùng sai quá lâu nên nhiều người cũng tưởng là đúng:

          & Ưu, nhược điểm:

          Tiếng Hán Việt: 优 ưu là tốt, đầy đủ, xuất sắc còn từ 弱 nhược là yếu, kém nên không thể làm từ đối trọng với ưu được. Từ ưu phải đi với khuyết 缺 (sứt mẻ, không đầy đủ) mới đúng, gọi là ưu, khuyết điểm.

           Còn từ nhược phải đi với cường 強 (mạnh) làm đối trọng mới hợp lý. Trong bài hát “Khoẻ vì nước” ta hay nghe có câu: “Dân sinh dũng cường…..” và câu tiếp theo là: “Dân sinh yếu nhược……” Như vậy đã rõ đúng sai. 

          & Nghiêm túc:

          Chữ “Túc” trong tiếng Hán có hàng chục nghĩa. Một trong những nghĩa đó là “chân” (như túc cầu). Bởi vậy khi nói nghiêm túc, bạn sẽ tưởng tượng ra việc đứng nghiêm, chân tay không nhúc nhích. Không thể đại diện cho hành động, lời nói, việc làm được. Ta nên dùng chữ “Nghiêm chỉnh’ thì đúng hơn.

          & Xu hướng:

          Từ “Xu” đứng trước nhiều từ như xu thời, xu thế, xu nịnh, xu mạt, xu mị v.v nhưng không nên đứng trước từ “hướng” vì tiếng Việt đã có từ “khuynh hướng” (倾向) mà tôi không nghe lại lâu lắm rồi. Dùng từ này chỉ việc ngả theo bên nào, chính xác và lịch sự hơn từ “xu hướng” có vẻ hèn mạt. Còn có từ “Tả khuynh 左傾” và “Hữu khuynh 右傾” diễn tả đường hướng chính trị. 

          & Trước đây, trước đó:

          Nhiều người lầm tưởng hai từ “đây” và “đó” có nghĩa giống nhau, dùng sao cũng được nhưng thật ra nó khác nhau nhiều. “Trước đây” là thời điểm gần nhưng vô định còn “trước đó” là thời điểm có xác định rõ. Nhiều người, nhất là Google hay dùng từ “trước đó” thay cho “trước đây”, đọc nghe kỳ cục. 

          & Nơi, chỗ:

          Hai từ này đều chỉ địa điểm, vị trí. “Nơi” để chỉ không gian lớn, không xác định vị trí rõ rệt còn “Chỗ” thì ngược lại, chỉ không gian nhỏ, có thể xác định. Hiện nay nhiều người dùng từ “Nơi” quá nhiều, nhiều lúc làm sai nghĩa đi.

          & Bộ trưởng, thứ trưởng:

           Từ này có rất lâu nhưng không ai để ý đến điểm sai logic: Đã “thứ” mà còn có “trưởng” nữa. Nghe người ta thường nói con thứ, con trưởng là đủ hiểu nó sai ở chỗ nào. Chắc ngày xưa họ không tìm ra từ nên đặt đại. Chẳng lẽ nói là bộ thứ thì kỳ quá. Một từ sai gần giống là “phó trưởng phòng” thay vì “phó phòng” là đủ.

          Còn rất nhiều từ sai nữa nhưng hầu hết là do văn hoá vùng miền nên tôi không phân tích ở đây. Vấn đề là chúng ta không nên dùng những từ phiên âm vô nghĩa, làm người đọc khác miền không hiểu nó là gì nhất là trong văn viết chính thống. Tiếng Việt ta rất giàu từ ngữ, không đến nỗi phải dùng tiếng nước ngoài, ngoại trừ vài từ kỹ thuật mới, chưa có từ thay thế. Tôi chỉ thí dụ vài từ như: săm (chambre), lốp (envelope), kéo le (l’air) v/v.

          ……… 

          Tiếp theo là cách dùng từ Việt quá nghèo nàn trong khi ai cũng biết từ Việt rất phong phú, hơn bất kỳ ngôn ngữ nào khác.

          & Chúng:

          Đây là từ chỉ ngôi thứ ba số nhiều, dập theo từ “they” của tiếng Anh. Vấn đề là, hiện nay có rất nhiều người chỉ dùng mỗi từ “chúng” này cho tất cả ngữ cảnh, ngay cả đồ vật, chứ không riêng cho con người. Chẳng thà như Google không thể biết đến ngữ cành nhưng chúng ta là con người, chẳng lẽ không phân biệt được sao. Hơn nữa, từ “chúng” chỉ dành cho con người, không thể bao quát cả đồ vật, ngay cả động vật cũng vậy. Tiếng Việt ta rất phong phú, chỉ riêng về con người thôi, ta cũng có rất nhiều từ, chẳng hạn “họ, tụi nó, chúng nó, các người, v.v”, chưa nói đến những từ chỉ riêng cho từng công việc cụ thể. Vả lại, tiếng Anh là ngôn ngữ nghèo nàn nhất mà cũng có thêm từ đồng nghĩa “them”, Tôi đọc nhiều bài viết toàn xài 1 từ “chúng” nghe lổm ngổm quá.

          & Điều:

           Như đã nói ở trên, Google không phân biệt được ngữ cảnh nên dùng từ “điều” cho tất cả mọi loại công việc: Điều này, điều nọ, điều kia v.v. làm thui chột tiếng mẹ đẻ của chúng ta. Tiếng Việt có rất nhiều từ thay thế. Tuỳ theo ngữ cảnh, ta có thể dùng từ: “việc” “chuyện” “cái” “con” v.v. 

          & Một số:

           Có lẽ từ này lấy từ “a number” của tiếng Anh, ám chỉ số lượng chỉ có 1 con số độc nhất. Vấn đề là, nhiều người chỉ dùng từ này để chỉ số lượng ít. Tiếng Anh còn thêm vài từ khác cũng chỉ số lượng như “some”, “several” vậy mà Google vẫn dịch chung là “một số”. Thế là có nhiều người noi theo, cái gì cũng “một số” tuốt luốt, quên tiếng Việt ta còn nhiều từ khác như “vài”,”một vài”,  “một ít” v.v.

          …………………

          Lạm dụng từ liên vận.

          Ngôn ngữ của ta là độc âm nên khi đứng một mình có vẻ bị cụt lủn. Bởi vậy phải ghép thêm một từ khác cho đỡ ngắn, nhất là khi phát âm. Không như tiếng Hoa, cũng là độc âm như ta, chỉ biết thêm từ đồng âm như “gia gia” “má má”, liên vận của tiếng Việt đa dạng và phong phú hơn nhiều. Có thể dùng bất kỳ từ nào làm liên vận, dù là từ vô nghĩa cũng được miễn sao đọc lên nghe mượt mà là đựơc.

          Vấn đề là hiện nay người viết lạm dụng từ liên vận quá nhiều. Hễ có từ “may” là phải có “mắn”, có “lạ” thì phải có “lùng”, có “cần” thì phải có “thiết” v.v, nhiều lắm. Tôi đã bật cười thành tiếng khi thấy có người viết: “Không may mắn thay,” trong khi chỉ cần viết “Không may,” là đủ nghĩa. Văn viết cần ngôn từ đơn giản, dễ hiểu, không phức tạp, không chỉ vì cái tôi mà cố tình viết quá dài giòng, rắc rối như nhiều người thường mắc phải.

          LTP 02-26.